Tiếng Việt  English
23 Tháng Hai 2012
  |  Đăng Nhập
 Ngày Tháng
Đóng

 Tìm Kiếm
Đóng

 

 Lượt Truy Cập
Đóng

Free Hit Counter

PHÒNG CÔNG NGHỆ SINH HỌC

Chào mừng các Bạn đến với Website của Phòng Công Nghệ Sinh Học - IAS

Trang Chủ Giới Thiệu Liên Hệ
CNSH Động Vật CNSH Thực Vật Hợp Tác - Dịch Vụ

 Bản Tin
Đóng

(b) Kỹ thuật siêu âm: là một trong những kỹ thuật hình ảnh quan trọng nhất được ứng dụng rộng rãi trong sinh sản trên bò, từ mục đích nghiên cứu đến thương mại. Giữa thập niên 1980s, nhiều báo cáo đã trình bày về độ chính xác của siêu âm như là công cụ hữu hiệu để nghiên cứu sự tiến bộ của sinh sản trên bò (Curran và cs, 1986; Kastelic và cs, 1988 và Ginther, 1998). Kỹ thuật siêu âm là kỹ thuật không xâm lấn, cho phép nghiên cứu trên bò sống trong giai đoạn mang thai mà không làm tổn thương bào thai.

Read More »

(a) Kỹ thuật đa xuất noãn và cấy truyền phôi (MOET). Cấy truyền phôi bắt đầu cách đây khoảng 4 thập kỷ, là một công nghệ sinh sản tiến bộ hơn hẵn so với GTNT. Kỹ thuật này đạt thành tựu trong 25 năm qua và đã đánh dấu công nghệ chuyển phôi bò thương mại như là lĩnh vực kinh doanh quốc tế lớn nhất (Mapletoft và Hasler, 2005; Lonergan, 2007). Những đóng góp có ý nghĩa của kỹ thuật này vào sự gia tăng tính thương mại toàn cầu của phôi là sự phát triển thành công bảo quản đông lạnh và quy trình rửa phôi để thu được những phôi sạch bệnh, chất lượng cao (Mapletoft và Hasler, 2005). Trong năm 2005, khoảng 130 ngàn bò cái đã cho hơn khoảng 600 ngàn phôi phục vụ cấy truyền, tăng 10% trên phạm vi toàn cầu so với năm trước đó, các khu vực Bắc Mỹ, nam Mỹ và châu Á lần lượt chiếm 45%, 21% và 19% lượng ET trên thế giới (Thibier, 2005).

Read More »

Bảo quản đông lạnh giao tử và phôi: kỹ thuật này cũng đạt những quy trình thành công nhằm đông lạnh tinh trùng, nhằm phục vụ công tác GTNT để nhân rộng tiềm năng di truyền của những đực giống tốt (Gordon, 1994). Đông lạnh tinh trùng đã đẩy mạnh sự phát triển của chăn nuôi bò sữa, thông qua GTNT, vì vậy hiện có hơn 60% đàn bò tại Mỹ được GTNT. Ngược lại, do đặc điểm của hình thức chăn nuôi quãng canh trên khu vực rộng, nên GTNT chưa được ứng dụng mạnh trong chăn nuôi bò thịt. Tương tự như GTNT, đông lạnh phôi đã cho phép thương mại hóa toàn cầu những gia súc có phẩm chất di truyền cao.

Read More »

Gieo tinh nhân tạo (GTNT) là kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đầu tiên, đã được sử dụng hơn 200 năm. Là một công nghệ hiện đại, GTNT với tinh dịch tươi hoặc đông lạnh đã là kỹ thuật thành công nhất và công nghệ sinh sản hiệu quả trong chăn nuôi trong sáu thập kỷ qua. Sử dụng GTNT có một tác động lớn đến các chương trình cải thiện di truyền các nước phát triển, góp phần tăng 1,0 đến 1,5% tỷ lệ hàng năm của tiến bộ di truyền ở bò sữa (Lohuis, 1995). Thông qua các tiến bộ di truyền đạt được bằng cách sử dụng GTNT, ước tính rằng khoảng 50% việc tăng hiệu quả sản xuất sữa quan sát thấy ở các nước phát triển trong nửa sau thế kỷ 20, là nhờ phổ biến kỹ thuật GTNT hơn phối giống thông thường, với 50% khác là nhờ tiến bộ đáng kể trong hệ thống sản xuất bao gồm cả sức khỏe đàn gia súc, quản lý tổng hợp, và dinh dưỡng (Gordon, 1994).

Read More »

Sự tiến bộ của sinh học và công nghệ trong suốt sáu thập kỷ qua đã mang lại sự phát triển của bốn thế hệ công nghệ hỗ trợ sinh sản (Assisted Reproductive Technology-ART). Trong lịch sử, ngoài sự ham biết khoa học, sự nảy sinh và phát triển của công nghệ sinh sản đã được thúc đẩy bởi việc cố gắng đạt được hiệu quả kinh tế cao hơn bằng cách tăng trong số con ở thế hệ đời sau từ những động vật có tiềm năng di truyền ưu tú hoặc đơn giản là để bảo vệ nguồn gen của những động vật sinh sản kém hay vô sinh. Nói cách khác, công nghệ sinh sản được phát triển để cung cấp cho chúng ta khả năng sử dụng các cá thể ưu tú rộng rãi hơn (Moore và Thatcher, 2006). Một tác dụng hữu ích nổi bật của công nghệ sinh sản là nghiên cứu cơ bản và lâu dài giúp giải thích những cơ chế sinh học phức tạp trong hệ thống sinh sản cũng như chu kỳ sinh sản của con đực và con cái. Ngày nay, không thể phân biệt giữa công nghệ sinh sản và công nghệ di truyền trong một chương trình quản lý di truyền thành công. Do đó, ứng dụng của công nghệ sinh học trong chăn nuôi thường nằm trong bốn lĩnh vực sau: (a) chăn nuôi và quản lý (b) sức khỏe gia súc (c) dinh dưỡng và phát triển và (d) sinh sản và di truyền.

Read More »

Enterotoxigenic Escherichia coli (ETEC)  có xúc tua họ F4 là một trong những nguyên nhân chính gây bệnh tiêu chảy  tử vong  heo sơ sinh  heo con. Vi khuẩn sử dụng xúc tua F4 để bám dính vào các  thụ thể trên bề mặt tế bào ruột. Xúc tua F4  tồn tại trong ba biến thể kháng nguyên khác nhau, F4ab, F4ac  F4ad, trong đó F4ac  phổ biến nhất. Khả năng chống bám dính ETEC F4ab/F4ac  heo đã được thể hiện như là một tính trạng lặn.

Read More »

Thụ thể ghi nhận trên màng tế bào PRR (pattern recognition receptors) hay còn gọi là thụ thể nhận biết hình mẫu, bao gồm các thụ thể Toll-like (TLR), kiểm duyệt thụ thể phân tử có nguồn gốc từ vi khuẩn, virus và nấm. Hệ thống PRR là điều kiện tiên quyết để đáp ứng thích hợp các mầm bệnh như: sản xuất cytokine, tiêu diệt mầm bệnh. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tính đa hình của các gen PRR ảnh hưởng đến sự đáp ứng miễn dịch của cơ thể và tính nhạy cảm với bệnh tật ở người và chuột.

Read More »

Sức đề kháng và khả năng chống lại bệnh tật trong chăn nuôi là một vấn đề rất phức tạp và khó khăn. Hoạch định tiêu chuẩn sức khoẻ của những thế hệ đời sau là một mục tiêu lớn cần được giải quyết trong thập niên kế tiếp. Trong bài này, mục tiêu nghiên cứu là định hướng di truyền học liên quan đến việc đáp ứng miễn dịch của heo nhưng không cụ thể cho từng tác nhân gây bệnh. 443 heo đực thiến 60 ngày tuổi được ghi nhận khả năng sản xuất và đánh giá tham số miễn dịch trong 3 tuần sau khi được tiêm phòng vaccin chống Mycoplasma Hyopneumoniae.

Read More »

Các nhà khoa học tại Đại học Newcastle đã phát minh ra 1 thiết bị nhằm có thể theo dõi sức khoẻ của những cá thể bò có những biểu hiện bệnh ở giai đoạn đầu, nhằm từ đó có những biện pháp thích hợp để cách ly và điều trị. Bằng cách sử dụng kỹ thuật “nhận diện tần số radio” (RFID-radio frequency identification), những thẻ tai này được gắn con chip điện tử nhằm tính toán thời gian khi cá thể bò đến máng ăn và sau khi kết thúc bữa ăn của chúng. Theo Ollie Szyska, cũng như bất cứ loài vật nào, khi có những biểu hiện bệnh, cơ thể sẽ mất cảm giác đói và thèm ăn do mệt mỏi. Đối với bò, nếu chúng ta phát hiện càng sớm các biểu hiện này, thì khả năng chúng ta có thể tách ly cá thể bệnh ra khỏi đàn càng cao, dẫn đến việc điều trị sẽ mau chóng và dễ dàng hơn.

Read More »

Khả năng chống chịu stress nhiệt của tế bào được chi phối bởi hoạt động của họ protein HSP (heat shock protein). HSP70 là 1 chaperone hoạt động trong sinh vật với chức năng bảo vệ tế bào chống lại stress và hiện tượng tế bào tự chết (apotosis)1. Cụ thể hơn, HSP70 bảo vệ các protein sơ cấp hoặc các protein vừa được tổng hợp và giúp các protein này đến các vị trí cụ thể trong tế bào để chúng thể hiện chức năng. Vì thế, cơ chế điều khiển hoạt động của HSP70 rất quan trọng với sự sống của tế bào.

Read More »

1 - 10 of 118   
First  |  
< Previous  |  
Next >  |  


 Chuyên Mục
Đóng

 Đơn Vị Tài Trợ
Đóng

 Thành Tích
Đóng

Đánh giá những thành quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng TBKT vào phát triển sản xuất nông nghiệp và nông thôn, Viện đã được Nhà nước và các tổ chức tặng thưởng:

Huân chương Độc lập:
- Hạng 2
- Hạng 3

Huân chương Lao động:
- Hạng 1
- Hạng 2
- Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước
- Nghiên cứu dinh dưỡng và thức ăn gia súc (2005)
- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC:
- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)
- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn
(2005)

 Website Liên Kết