Tiếng Việt  English
23 Tháng Hai 2012
  |  Đăng Nhập
 Ngày Tháng
Đóng

 Tìm Kiếm
Đóng

 

 Lượt Truy Cập
Đóng

Free Hit Counter

PHÒNG CÔNG NGHỆ SINH HỌC

Chào mừng các Bạn đến với Website của Phòng Công Nghệ Sinh Học - IAS

Trang Chủ Giới Thiệu Liên Hệ
CNSH Động Vật CNSH Thực Vật Hợp Tác - Dịch Vụ

 Bản Tin
Đóng

Quy trình là kết quả tổng hợp của đề tài  độc lập cấp nhà nước “Nghiên cứu bệnh sinh sản, viêm vú bò sữa và xác định giải pháp phòng trị” và các kết quả nghiên cứu trong, ngoài nước có liên quan.

1. Phạm vi áp dụng

-  Địa bàn áp dụng: các vùng chăn nuôi bò sữa trọng điểm trên toàn quốc, các nông hộ/trang trại nuôi bò sữa với các quy mô khác nhau.

-     Đối tượng áp dụng: áp dụng quy trình chẩn đoán này trên những bò cái chậm sinh hay khi tình trạng sẩy thai trong đàn lớn hơn 5%

-     Đối tượng sử dụng quy trình: Bác sỹ thú y hoặc dẫn tinh viên đã qua đào tạo.

2. Mục tiêu qui trình

Chẩn đoán sớm, nhanh và chính xác các nguyên nhân gây bệnh chậm sinh, sẩy thai bò sữa nhằm chọn liệu pháp điều trị chính xác và hiệu quả.

 

Read More »

Nhóm nhà khoa học ở Viện kỹ thuật Carlow ở Ireland cho biết rằng hạt cải dầu sử dụng làm nhiên liệu sinh học ở Ireland có thể khả năng làm sạch những vùng đất bị ô nhiễm. Loài thực vật này được chứng minh rằng nó có khả năng làm sạch đất bị ô nhiễm và thấy rằng đây là cách rẻ tiền và thân thiện với môi trường trong việc khử những kim loại nặng như arsen, đồng kẽm, crom từ những vùng đất bị ô nhiễm. Vấn đề chính ở phương pháp này thời gian để cây phát triển của cây đủ đảm bảo có khả làm sạch một vùng đất ô nhiễm. Ngày nay các khoa học đã đưa ra một cách giải quyết là kết hợp với những vi khuẩn chống chịu với kim loại nặng với cây được sử dụng tạo nhiên liệu sinh học như cây cải dầu.

Olivia odhiamabo ở Viện kỹ thuật Carlow nói: Chúng tôi đã phát hiện rằng những cây được chủng vi khuẩn kháng kim loại nặng chúng sẽ được bảo vệ một cách hiệu quả.Vì thế hạt của chúng nảy mầm tốt hơn và sự phát triển của chúng nhanh hơn. Lá của chúng tích lũy kim loại nặng và vi khuẩn sẽ khử những chất ô nhiễm này từ lá của cây cải dầu.

Read More »

Những nhà khoa học trường đại học Wageningen đã phát hiện ra một nhóm hormone thực vật mới được gọi là strigolactones. Nhóm hợp chất này được biết tham gia vào sự tương tác giữa cây trồng và môi trường.

Các nhà khoa học cũng đã chứng minh rằng strigolactones là hormones quan trọng cho sự phân nhánh của cây. Sự sinh trưởng và phát triển của cây được điều kiển chủ yếu bằng các hormone thực vật. Một số hormone như auxin, giberellin và cytokinin được phát hiện cách đây vài thập kỷ. Gần đây một nhóm hormones mới được tìm thấy được gọi là strigolactones. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng strigolactones đóng vai trò chủ yếu trong sự tương tác giữa cây trồng và môi trường. Bởi cây trồng không thể di chuyển, chúng chủ yếu sử dụng những hợp chất do chúng tự tạo ra để điều chỉnh môi trường ở mức có thể.

Read More »

Khi một nòi của virus cúm trở nên độc, đó thường là kết quả của một sự đột biến. Mỗi năm trước mùa cúm xảy ra, mạng lưới giám sát cúm toàn cầu phải quyết định nòi nào của virus sẽ được sử dụng để tạo ra vaccine của năm đó. Mạng lưới phải đưa ra lựa chọn trước mùa cúm bởi vì quá trình tạo ra vaccine mất nhiều thời gian. Phải mất ít nhất sáu tháng để sản xuất đủ lượng vaccin cho cộng đồng. Việc sản xuất vaccine cúm để đáp ứng nhu cầu của một bệnh dịch toàn cầu là một thách thức. Mạng lưới phải chắc chắn rằng họ đang sản xuất vaccine chống lại một nòi đúng của virus cúm, nòi đang lưu hành.

Read More »

Trong nhiều năm nay, tế bào gốc phôi đã đem lại nhiều lợi ích cho con người. Tuy nhiên, liệu pháp tiềm năng này vẫn đối đầu với những khó khăn. Sự thiếu một mô hình động vật để kiểm tra những liệu pháp mới trong thời gian dài và sự không tương hợp di truyền giữa những tế bào cho và nhận là một số vấn đề mà những nhà khoa học đang gặp phải.

Hiện nay, các nhà khoa học tại trường đại học Missouri đã lấy những tế bào bình thường từ mô liên kết của heo, được biết đến như là nguyên bào sợi để biến đổi chúng thành tế bào gốc. Phương pháp này loại bỏ một số khó khăn nêu trên. Heo là một mô hình lý tưởng để kiểm tra những liệu pháp mới bởi vì nó rất tương đồng với con người.

Read More »

Hàng ngàn năm nay, các chủ trại chăn nuôi đều mơ ước có một phương pháp để sản xuất ra gia súc có giới tính theo mong muốn. Đối với chăn nuôi bò sữa, người chăn nuôi luôn mong muốn có bê cái. Trong khi với chăn nuôi bò thịt, người chăn nuôi lại mong muốn có bê đực. Ở Mỹ, nếu một bê cái tơ Holstein tốt có thể bán được giá 510-590 USD/con (nặng khỏang 41–54kg), thì một bê đực chỉ có thể bán với giá 170-208 USD/con. Như vậy, rõ ràng ngoài việc bê cái có khả năng sử dụng trong việc thay thế đàn, nó còn có giá trị kinh tế gấp ba lần so với bê đực. Ở Việt Nam, một bê cái hướng sữa tốt (mẹ của nó có khả năng sản xuất sữa cao) sẽ được giữ lại hoặc có giá trị khỏang 1,5-2 triệu đồng/con khi dứt sữa (4 tháng tuổi), trong khi bê đực sẽ được bán ngay sau khi sinh với giá chỉ khỏang 300.000đ hoặc 1 triệu đồng khi dứt sữa, nếu sinh trưởng tốt. Như vậy, bê cái hướng sữa tốt sẽ có giá trị kinh tế cao hơn 50-100% so với bê đực hướng sữa trong cùng điều kiện. Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi người chăn nuôi bò sữa luôn mong muốn có phương pháp để chỉ sản xuất ra những con bê cái hướng sữa.

Read More »

Gen chịu mặn rstB, do promoter cauliflower mosaic virus 35S kiểm soát, đã được dùng như marker chọn lọc đối với cây thuốc lá (Nicotiana tabacum cv. Xanthi) chuyển gen nhờ vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens. Nhân tố chọn lọc để thu nhận những cây chuyển gen tái sinh là có thể chịu đựng được môi trường chứa 170 mM sodium chloride và kết quả cho thấy hiệu quả chọn lọc đạt được là 83,3%. Đồng thời không có sự khác biệt về hiệu quả chọn lọc khi sử dụng những marker chọn lọc chuẩn như gen hpt và gen kháng hygromycin. Kết quả chuyển gen được xác nhận lại bằng các phương pháp phân tử như: PCR, Southern blot, RT-PCR và green fluorescent protein. Những cây chuyển gen rstB cho thấy khả năng chịu mặn đã được nâng cao và có kiểu hình bình thường. Dựa vào những kết quả này, nhóm nghiên cứu khuyến cáo rằng gen rstB sẽ là maker chọn lọc đầy hứa hẹn và có thể thay thế cho các marker chọn lọc trước đây như gen kháng kháng sinh và kháng thuốc diệt cỏ trong cây chuyển gen.

Lược dịch: KS. Bùi Anh Xuân

Chi tiết: http://www.springerlink.com/content/u2172658q3p50727/

Read More »

Sử dụng kỹ thuật multiplex real-time PCR để phát hiện và định lượng nhiều loài khác nhau trong nhóm Salmonella spp., đặc biệt là nhóm Salmonella đường ruột S. Typhimurium and S. Enteritidis trong thịt

Salmonella (S.) Typhimurium và S. Enteritidis là hai tác nhân chính gây ra tình trạng ngộ độc thực phẩm trên thế giới. Hiện nay, kỹ thuật multiplex real-time polymerase chain reaction (PCR) đã từng được áp dụng để giúp phát hiện nhanh những tác nhân gây bệnh từ thực phẩm như Escherichia coli, Staphylococcus aureus Streptococcus spp. Kỹ thuật multiplex real-time PCR đã được phát triển để cùng lúc phát hiện cho cả nhóm Salmonella spp., đặc biệt là S. Typhimurium và S. Enteritidis, trong thịt bò và heo.

Read More »

Tác động của cúm A/H1N1 lên những con heo con đã được điều tra. Các nhà khoa học đã nghiên cứu bệnh học của virus và nhận ra rằng tất cả những động vật bị nhiễm đều thể hiện những triệu chứng giống cúm.

Roongroje Thanawongnuwech, một nhà nghiên cứu từ trường đại học Chulalongkorn, Thái Lan đã gây nhiễm những con heo 22 ngày tuổi với nòi H1N1 và H3N2 ít độc hơn. Kết quả thí nghiệm đã chứng minh rằng cả H1N1 và H3N2 đều gây các triệu chứng giống cúm và những thương tổn trên phổi ở những con heo mới cai sữa.

Read More »

Dừa là một trong những loài cây rất khó tái sinh trong ống nghiệm invitro. Mặc dù có nhiều nỗ lực nghiên cứu trước đây bằng việc dùng mẫu cấy chồi mầm với những kết quả bước đầu trong sự phát sinh phôi có thể sinh sản, với khả năng chỉ là 04 (ở nghiệm thức không xử lý brassinolide) hoặc 10 phôi sinh dưỡng trên một chồi mầm (ở nghiệm thức có xử lý brassinolide). Để gia tăng hiệu suất tạo phôi sinh dưỡng ở cây dừa, có hai cách tiếp cận đã được đánh giá và trình bày ở đây: đó là sự phát sinh phôi thứ cấp và nhân callus phôi. Phôi sinh dưỡng sơ cấp tồn tại trong mẫu cấy chồi mầm (được sử dụng như là mẫu cấy ban đầu) và từ đó hình thành cả dạng callus phôi và phôi dinh dưỡng thứ cấp.

Read More »

1 - 10 of 81   
First  |  
< Previous  |  
Next >  |  


 Chuyên Mục
Đóng

 Đơn Vị Tài Trợ
Đóng

 Thành Tích
Đóng

Đánh giá những thành quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng TBKT vào phát triển sản xuất nông nghiệp và nông thôn, Viện đã được Nhà nước và các tổ chức tặng thưởng:

Huân chương Độc lập:
- Hạng 2
- Hạng 3

Huân chương Lao động:
- Hạng 1
- Hạng 2
- Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước
- Nghiên cứu dinh dưỡng và thức ăn gia súc (2005)
- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC:
- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)
- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn
(2005)

 Website Liên Kết