10/03/2009 8:19 SA
Các nhà khoa học Hoa Kỳ vừa phát hiện gen pun1, một gen trội kiểm soát tính cay nồng đặc trưng trong loài ớt (Capsicum ssp). Sự sinh tổng hợp capsaicinoid hạn chế trong chi Capsicum, nguyên nhân do acetyl hoá vòng benzen vinylalamine với nhánh axít béo. Các nhà khoa học cho rằng sự tổng hợp capsainoid được kiểm soát bởi gen Pun1 khi phân tích chuỗi mã di truyền mã hoá enzyme acetyltransferase xúc tác trong phản ứng acetyl hoá.
Read More »
|
09/03/2009 7:46 SA

Lúa, lúa mì, và bắp là nhóm cây trồng quan trọng trên thế giới. Gạo là nguồn thức ăn chính của gần nửa dân số thế giới.
Lúa là cây trồng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Canh tác lúa tập trung chính ở Trung Quốc, Ấn độ và Đông Nam Á. 90% sản lượng lúa của thế giới được sản xuất từ khu vực này và phần lớn được tạo ra bởi những người nông dân trồng ở quy mô nhỏ. Thái Lan là nước xuất khẩu gao lớn nhất thế giới. Ở Châu Au, Ý là nước trồng lúa lớn nhất.
Lúa kháng thuốc diệt cỏ: Việc ứng dụng đã được chấp nhận ở Châu Âu.
Hiện tại, lúa chuyển gen chưa được trồng ở quy mô lớn. Mặc dù lúa chuyển gen(LL62) đã được cho phép trồng ở Mỹ, nhưng người nông dân vẫn chưa bắt đầu sử dụng.
Việc sử dụng gạo LL62 làm thức ăn và gia súc đã được đưa ra xem xét ở Châu Âu và đang được đánh giá về mức độ an tòan.
Cây lúa LL62 này kháng được thuốc diệt cỏ, do đó người nông dân dễ dàng kiểm sóat cỏ dại hơn.
Kiểm sóat cỏ dại và sậu bọ gây hại là lý do chính giải thích tại sao 80% những cánh đồng lúa trên thế giới bị ngập. Lúa không có nguồn gốc là cây sống ở nước. Hơn nữa, lúa thích ứng điều kiện ngập là bởi quá trình lai tạo giống.
Read More »
|
05/03/2009 2:24 CH
Một loại protein thực vật có các đặc tính hủy diệt sinhvật phổ rộng chống lại các côn trùng gây hại cũng như các bệnh về nấm và vi khuẩn, có thể là loại thuốc tốt nhất trong tương lai trong việc kiểm soát các loại gây hại và dịch bệnh trên cây trồng. Các nhà khoa học đã ly trích 'finotin' từ hạt của cây họ đậu nhiệt đới tên là Clitoria ternatea và nghĩ rằng đây có thể trở thành một sự lựa chọn rẻ tiền và dể dàng cho người nông dân trong việc kiểm soát dịch bệnh và loài gây hại
Xu hướng tự nhiên để giải quyết các vấn đề về sức khỏe rất hợp lý đằng sau sự lựa chọn nầy, và điều nầy đặc biệt đúng cho sức khỏe của thực vật. Hiện tại, các loại thuốc trừ sâu nhân tạo ('Artificial' pesticides) được sử dụng chủ yếu trong việc kiểm soát dịch bệnh và các loài gây hại trên đồng ruộng cũng như trong kho cất giữ gây ra các ảnh hưởng xấu cho sức khỏe con người và môi trường. Vì vậy, việc ra đời của thuốc trừ sâu sinh học, một sự lựa chọn an toàn dựa trên các hợp chất có tính chất bảo vệ được tạo ra một cách tự nhiên, dần dần chiếm ưu thế .
Read More »
|
03/03/2009 6:17 SA

Thuốc trừ sâu sinh học là loại thuốc trừ sâu có nguồn gốc từ các vật liệu tự nhiên như động vật, thực vật, vi khuẩn và các khoáng chất. Ví dụ: dầu từ cây cải dầu được xem như thuốc trừ sâu sinh học. Cuối năm 2001, có khoảng 195 các hợp chất có hoạt tính như thuốc trừ sâu sinh học và 780 sản phẩm thuốc trừ sâu sinh học được đăng ký.
Thuốc trừ sâu sinh học được chia thành 3 nhóm chính:
Read More »
|
24/02/2009 7:49 SA

HSDT của một tính trạng sẽ giúp cho người chăn nuôi có định hướng trong việc chọn bố mẹ như thế nào để thế hệ sau có kiểu hình (của tính trạng đó) như mong muốn. Đối với những tính trạng có HSDT lớn hơn 0,40 kiểu hình (đối với tính trạng đó của gia súc) là những chỉ báo đáng tin cậy của giá trị di truyền hay giá trị giống. Trong khi những tính trạng có HSDT thấp hơn 0,15 kiểu hình (đối với tính trạng đó của gia súc) là kém hữu hiệu để đánh giá những gen tốt nhất của tính trạng.
HSDT là thành phần quan trọng của phương trình để dự đoán tiến bộ di truyền từ việc chọng giống nhằm cải thiện tính trạng. Một hình thức đơn giản nhất của sự chọn giống được gọi là “sự lựa chọn đa số” hoặc sự chọn giống dựa trên kiểu hình của nhiều cá thể trong quần thể, phương trình tính toán là:
DG = ih2sp
Read More »
|
23/02/2009 8:43 CH
Tiềm năng của nhiên liệu sinh học khích lệ các nhóm dự án giải mã trình tự gen cây đậu nành
Bộ gen cây đậu nành cuối cùng cũng đã được giải mã thành công. Đậu nành (Glycine max) là cây lương thực chính cho người và vật nuôi vì giàu hàm lượng dầu và protein. Tuy nhiên, ngày nay nó lại được xem như là nguồn nguyên liệu chính để tạo ra diesel sinh học (loại dầu thực vật được biến đổi hóa học dùng trong các động cơ diesel), loại nhiên liệu thu hút được sự quan tâm nghiên cứu đặc biệt từ Phòng Năng lượng của Viện nghiên cứu Gen (JGI) ở California, Mỹ.
Các nhà khoa học và đồng sự tại JGI đã cho ra một bản phác thảo hoàn chỉnh về bộ gen đậu nành vào ngày 08 tháng 12 năm 2008 tại Hội nghị Quốc tế về hệ gen và sự di truyền của cây họ đậu tại Puerto Vallarta, Mexico. Các nhà nghiên cứu ước tính dự án giải mã này đã tiêu tốn hơn 20 triệu đô Mỹ trong vòng ba năm để đưa ra được trình tự bộ gen hoàn chỉnh, gồm cả các nghiên cứu giai đoạn đầu.
Read More »
|
18/02/2009 8:24 SA
Khái niệm xung quanh từ “hệ số di truyền” (tiếng Anh là heritability hay ký hiệu bằng h2) là một trong số những khái niệm quan trọng mà những người làm công tác giống bò sữa cần hiểu rõ. Hệ số di truyền (HSDT) được áp dụng đối với một tính trạng đơn lẻ được đo lường trên một quần thể gia súc cụ thể trong thời điểm xác định. Ước lượng HSDT của một tính trạng có thể khác nhau giữa cá giống bò sữa và có sự thay đổi chậm theo thời gian. HSDT được ước lượng từ việc ghi nhận thành tích (sản xuất) của gia súc và những thông tin về hệ phả được sử dụng để xác định sự liên quan về di truyền giữa những gia súc này. HSDT giúp giải thích mức độ kiểm soát của gen đối với sự biểu hiện của một tính trạng. HSDT được sử dụng để tính toán sự ước lượng di truyền, để dự đoán mức độ đáp ứng của sự chọn giống, và nó giúp người sản xuất có quyết định đúng đắn trong việc nên chọn biện pháp quản lý hay chọn giống để cải thiện hiệu quả các tính trạng sản xuất của gia súc. Bài viết này sẽ nêu bật một số định nghĩa quan trọng của HSDT và cung cấp HSDT ước lượng của một số tính trạng quan trọng của bò sữa.
Read More »
|
16/02/2009 4:02 CH

RNA, một chất liên quan đến DNA, có thể được sử dụng như một chất căn bản của hệ thống mà trong đó các cặp phân tử (pair of molecular) cùng nhau tái sản xuất vô tận. Hệ thống này cho phép các phân tử tiến hóa theo những cách mà có thể làm sáng tỏ nguyên thủy của cuộc sống. Công trình này giúp phát triển thêm ‘tài sản’ lý thuyết đa dạng của thế giới RNA.
Tác giả công trình nghiên cứu này cho rằng trong giai đoạn đầu sự tiến hóa, RNA đã được sử dụng cho cả 2 nhiệm vụ: nguồn thông tin dự trữ gen (ngày nay nhiệm vụ này do DNA đảm nhận) và những phản ứng xúc tác hóa học (phần lớn nhiệm vụ này được chuyển giao cho các protein). Andy Ellington (trường Texas tại Austin) dự đoán rằng công trình này sẽ được nhìn nhận như sự kiện mang tính đột phá thay đổi quan niệm của con người về giai đoạn khởi nguyên của sự sống và điều này có tác động to lớn đến thế giới RNA.
Tuy nhiên tác giả cũng cảnh báo rằng kết quả nghiên cứu của họ không nhằm chứng minh sự sống trên trái đất đã tiến hóa theo cách này. “Đây là hệ thống đại diện cho quá trình tự sao chép, khả năng đột biến, và khả năng di truyền- chúng tôi cố gắng không áp đặt quá nhiều quan điểm lịch sử đã được chấp nhận vào nó” Gerald Joyce tại TT nghiên cứu La Jolla, California phát biểu.
(Theo Erika Check Hayden, 8th Jan 2009, Nature Science)
Read More »
|
10/02/2009 9:09 SA

Nghiên cứu ảnh hưởng của di truyền lên hiệu quả (sử dụng) thức ăn trong nuôi bò thịt
Các nhà khoa học Mỹ của tổ chức USMARC (U.S. Meat Animal Research Center) đã sử dụng kỹ thuật BeadChip để nghiên cứu ảnh hưởng của di truyền lên hiệu quả (sử dụng) thức ăn trong nuôi bò thịt. Các nhà khoa học cũng sử dụng những kiểu gen “tạo ra” từ chip này để tìm sự tương quan giữa các DNA marker với các kiểu hình, điều này giúp nâng cao việc chọn giống trong nuôi bò thịt.
Read More »
|
09/02/2009 8:10 SA
Cùng với sự phát triển nhanh số lượng đàn bò sữa trong nước, vấn đề bệnh sinh sản cũng gia tăng. Một trong những nguyên nhân chính là việc tăng nhanh tỉ lệ máu bò HF trong bò lai hướng sữa để gia tăng năng suất sữa, trong khi tác động của điều kiện thú y, chăm sóc quản lý, nuôi dưỡng chưa phù hợp. Khi bò sữa bị bệnh sinh sản hoặc viêm vú, sẽ ảnh hưởng đến phẩm chất của sữa và trực tiếp làm giảm thu nhập, tăng tỉ lệ bò loại thải. Nhiều trường hợp người nông dân phải loại thải bò ngoài ý muốn, do bò bị viêm bầu vú gây biến chứng teo, xơ, sản lượng sữa kém hay bệnh sinh sản như viêm tử cung, không đậu thai... Ngoài ra, chất lượng sữa kém do bị nhiễm vi sinh nặng đã làm giảm đáng kể thu nhập của hộ chăn nuôi vì không bán được sữa hay phải bán với giá thấp. Từ đó, gây tổn thất cho người chăn nuôi và làm ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.
Read More »
|