Tiếng Việt  English
23 Tháng Hai 2012
  |  Đăng Nhập
 Ngày Tháng
Đóng

 Tìm Kiếm
Đóng

 

 Lượt Truy Cập
Đóng

Free Hit Counter

PHÒNG CÔNG NGHỆ SINH HỌC

Chào mừng các Bạn đến với Website của Phòng Công Nghệ Sinh Học - IAS

Trang Chủ Giới Thiệu Liên Hệ
CNSH Động Vật CNSH Thực Vật Hợp Tác - Dịch Vụ

 Bản Tin
Đóng

HSDT của một tính trạng sẽ giúp cho người chăn nuôi có định hướng trong việc chọn bố mẹ như thế nào để thế hệ sau có kiểu hình (của tính trạng đó) như mong muốn. Đối với những tính trạng có HSDT lớn hơn 0,40 kiểu hình (đối với tính trạng đó của gia súc) là những chỉ báo đáng tin cậy của giá trị di truyền hay giá trị giống. Trong khi những tính trạng có HSDT thấp hơn 0,15 kiểu hình (đối với tính trạng đó của gia súc) là kém hữu hiệu để đánh giá những gen tốt nhất của tính trạng.

HSDT là thành phần quan trọng của phương trình để dự đoán tiến bộ di truyền từ việc chọng giống nhằm cải thiện tính trạng. Một hình thức đơn giản nhất của sự chọn giống được gọi là “sự lựa chọn đa số” hoặc sự chọn giống dựa trên kiểu hình của nhiều cá thể trong quần thể, phương trình tính toán là:

DG = ih2sp

Read More »

Tiềm năng của nhiên liệu sinh học khích lệ các nhóm dự án giải mã trình tự gen cây đậu nành

 Bộ gen cây đậu nành cuối cùng cũng đã được giải mã thành công. Đậu nành (Glycine max) là cây lương thực chính cho người và vật nuôi vì giàu hàm lượng dầu và protein. Tuy nhiên, ngày nay nó lại được xem như là nguồn nguyên liệu chính để tạo ra diesel sinh học (loại dầu thực vật được biến đổi hóa học dùng trong các động cơ diesel), loại nhiên liệu thu hút được sự quan tâm nghiên cứu đặc biệt từ Phòng Năng lượng của Viện nghiên cứu Gen (JGI) ở California, Mỹ.

 

Các nhà khoa học và đồng sự tại JGI đã cho ra một bản phác thảo hoàn chỉnh về bộ gen đậu nành vào ngày 08 tháng 12 năm 2008 tại Hội nghị Quốc tế về hệ gen và sự di truyền của cây họ đậu tại Puerto Vallarta, Mexico. Các nhà nghiên cứu ước tính dự án giải mã này đã tiêu tốn hơn 20 triệu đô Mỹ trong vòng ba năm để đưa ra được trình tự bộ gen hoàn chỉnh, gồm cả các nghiên cứu giai đoạn đầu.

Read More »

Khái niệm xung quanh từ “hệ số di truyền” (tiếng Anh là heritability hay ký hiệu bằng h2) là một trong số những khái niệm quan trọng mà những người làm công tác giống bò sữa cần hiểu rõ. Hệ số di truyền (HSDT) được áp dụng đối với một tính trạng đơn lẻ được đo lường trên một quần thể gia súc cụ thể trong thời điểm xác định. Ước lượng HSDT của một tính trạng có thể khác nhau giữa cá giống bò sữa và có sự thay đổi chậm theo thời gian. HSDT được ước lượng từ việc ghi nhận thành tích (sản xuất) của gia súc và những thông tin về hệ phả được sử dụng để xác định sự liên quan về di truyền giữa những gia súc này. HSDT giúp giải thích mức độ kiểm soát của gen đối với sự biểu hiện của một tính trạng. HSDT được sử dụng để tính toán sự ước lượng di truyền, để dự đoán mức độ đáp ứng của sự chọn giống, và nó giúp người sản xuất có quyết định đúng đắn trong việc nên chọn biện pháp quản lý hay chọn giống để cải thiện hiệu quả các tính trạng sản xuất của gia súc. Bài viết này sẽ nêu bật một số định nghĩa quan trọng của HSDT và cung cấp HSDT ước lượng của một số tính trạng quan trọng của bò sữa.

Read More »

RNA, một chất liên quan đến DNA, có thể được sử dụng như một chất căn bản của hệ thống mà trong đó các cặp phân tử (pair of molecular) cùng nhau tái sản xuất vô tận. Hệ thống này cho phép các phân tử tiến hóa theo những cách mà có thể làm sáng tỏ nguyên thủy của cuộc sống. Công trình này giúp phát triển thêm ‘tài sản’ lý thuyết đa dạng của thế giới RNA.

 

Tác giả công trình nghiên cứu này cho rằng trong giai đoạn đầu sự tiến hóa, RNA đã được sử dụng cho cả 2 nhiệm vụ: nguồn thông tin dự trữ gen (ngày nay nhiệm vụ này do DNA đảm nhận) và những phản ứng xúc tác hóa học (phần lớn nhiệm vụ này được chuyển giao cho các protein). Andy Ellington (trường Texas tại Austin) dự đoán rằng công trình này sẽ được nhìn nhận như sự kiện mang tính đột phá thay đổi quan niệm của con người về giai đoạn khởi nguyên của sự sống và điều này có tác động to lớn đến thế giới RNA.

 

Tuy nhiên tác giả cũng cảnh báo rằng kết quả nghiên cứu của họ không nhằm chứng minh sự sống trên trái đất đã tiến hóa theo cách này. “Đây là hệ thống đại diện cho quá trình tự sao chép, khả năng đột biến, và khả năng di truyền- chúng tôi cố gắng không áp đặt quá nhiều quan điểm lịch sử đã được chấp nhận vào nó” Gerald Joyce tại TT nghiên cứu La Jolla, California phát biểu.

(Theo Erika Check Hayden, 8th Jan 2009, Nature Science)

Read More »

Nghiên cứu ảnh hưởng của di truyền lên hiệu quả (sử dụng) thức ăn trong nuôi bò thịt

Các nhà khoa học Mỹ của tổ chức USMARC (U.S. Meat Animal Research Center) đã sử dụng kỹ thuật BeadChip để nghiên cứu ảnh hưởng của di truyền lên hiệu quả (sử dụng) thức ăn trong nuôi bò thịt. Các nhà khoa học cũng sử dụng những kiểu gen “tạo ra” từ chip này để tìm sự tương quan giữa các DNA marker với các kiểu hình, điều này giúp nâng cao việc chọn giống trong nuôi bò thịt.

Read More »

Cùng với sự phát triển nhanh số lượng đàn bò sữa trong nước, vấn đề bệnh sinh sản cũng gia tăng. Một trong những nguyên nhân chính là việc tăng nhanh tỉ lệ máu bò HF trong bò lai hướng sữa để gia tăng năng suất sữa, trong khi tác động của điều kiện thú y, chăm sóc quản lý, nuôi dưỡng chưa phù hợp. Khi bò sữa bị bệnh sinh sản hoặc viêm vú, sẽ ảnh hưởng đến phẩm chất của sữa và trực tiếp làm giảm thu nhập, tăng tỉ lệ bò loại thải. Nhiều trường hợp người nông dân phải loại thải bò ngoài ý muốn, do bò bị viêm bầu vú gây biến chứng teo, xơ, sản lượng sữa kém hay bệnh sinh sản như viêm tử cung, không đậu thai... Ngoài ra, chất lượng sữa kém do bị nhiễm vi sinh nặng đã làm giảm đáng kể thu nhập của hộ chăn nuôi vì không bán được sữa hay phải bán với giá thấp. Từ đó, gây tổn thất cho người chăn nuôi và làm ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.

Read More »

Nếu hiểu rõ các tính trạng di truyền liên quan như thế nào với các gen đặc biệt sẽ cho phép các nhà khoa học phát triển và tạo ra những công cụ hữu hiệu nhằm có những quyết định chính xác trong quản lý, chọn giống và nhân giống.

Đối với các nghiên cứu nhằm cải thiện sức khoẻ gia súc, genomic đặc biệt hiệu quả trong những trường hợp nhiễm bệnh nhưng không biểu hiện triệu chứng. VD: bò có thể nhiễm bệnh hô hấp (BRD) hay bệnh suy giảm khả năng bám dính của bạch cầu (BLAD) nhưng không có dấu hiệu bệnh thể hiện rõ. Điều này sẽ gây khó khăn cho việc đánh giá khả năng di truyền sức đề kháng của những con bò này. Để giải quyết vần đề này các nhà khoa học Mỹ của hai tổ chức ARS (Agriculture Research Service) và USMARC (U.S. Meat Animal Research Center) đã cùng phối hợp nghiên cứu.

Read More »

Một nhóm nhà khoa học đứng đầu là giáo sư Marc-Andre Sirard, Đại học Laval, Quenbec,Canada đã nhận thấy một số genetic marker có thể cho phép chon lựa trứng tốt cho quá trình IVF (thụ tinh trong ống nghiệm) để dẫn đến làm tăng khả năng thành công của sự thụ thai sau này.Việc phát hiện này làm tăng tỉ lệ thành công phôi được cấy và làm giảm nguy cơ mang nhiều thai.

Read More »

Quy mô lứa đẻ (Litter Size) hay số con sơ sinh (SCSS) đóng vai trò quan trọng đối với việc tối ưu hoá trọng lượng cai sữa, bởi vì số con được cai sữa trên lứa là yếu tố then chốt trong tính toán này. Tuy nhiên, SCSS sẽ trở thành con số vô nghĩa nếu như tỷ lệ chết khi sơ sinh và trong giai đoạn theo mẹ (bú sữa) gia tăng. Chỉ số lựa chọn Hypor có thể tránh điều này bằng cách bao gồm cả các yếu tố như số con sơ sinh sống, trọng lượng sơ sinh và số heo con cai sữa/lứa. Thêm vào đó, sự lựa chọn nghiêm ngặt số lượng và chất lượng núm vú của heo mẹ sẽ bảo đảm khả năng cho sữa đầy đủ, giúp tăng tỷ lệ heo con sống trong giai đoạn theo mẹ và heo con đạt trọng lượng cao khi cai sữa.

Read More »

 

Các nhà khoa học tại Viện Di truyền Bắc Kinh (BGI) Shenzhen đã hoàn tất việc giải mã toàn bộ trình tự bộ gien của gấu PANDA lớn, được đặt tên là Jingjing. Các nhà khoa học đã sử dụng máy giải trình tự Illunima’s Genome Analyzer để giải mã toàn bộ trình tự bộ gien của gấu PANDA lớn trong vòng 1 tháng.

Read More »

1 - 10 of 16   
First  |  
< Previous  |  
Next >  |  


 Chuyên Mục
Đóng

 Đơn Vị Tài Trợ
Đóng

 Thành Tích
Đóng

Đánh giá những thành quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng TBKT vào phát triển sản xuất nông nghiệp và nông thôn, Viện đã được Nhà nước và các tổ chức tặng thưởng:

Huân chương Độc lập:
- Hạng 2
- Hạng 3

Huân chương Lao động:
- Hạng 1
- Hạng 2
- Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước
- Nghiên cứu dinh dưỡng và thức ăn gia súc (2005)
- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC:
- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)
- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn
(2005)

 Website Liên Kết