Tiếng Việt  English
23 Tháng Hai 2012
  |  Đăng Nhập
 Ngày Tháng
Đóng

 Tìm Kiếm
Đóng

 

 Lượt Truy Cập
Đóng

Free Hit Counter

PHÒNG CÔNG NGHỆ SINH HỌC

Chào mừng các Bạn đến với Website của Phòng Công Nghệ Sinh Học - IAS

Trang Chủ Giới Thiệu Liên Hệ
CNSH Động Vật CNSH Thực Vật Hợp Tác - Dịch Vụ

 Bản Tin
Đóng

“Tôi đã khuyên một TS giỏi cần ở lại Viện làm việc ít ra là một thời gian, vì suốt thời gian đi học bao nhiêu anh chị em đã phải gánh vác công việc thay cho mình. Nhưng tôi chịu thua khi em ấy nói: Thầy ơi em nghèo lắm , Thầy để em đi không thì nhỡ mất cơ hội ”(!) - GS Nguyễn Lân Dũng ưu tư.

Những chuyện như thế GS Nguyễn Lân Dũng gặp rất nhiều. Ông kể, rất nhiều lần gặp nghiên cứu sinh Việt Nam đang được đào tạo ở nước ngoài, phần lớn rất giỏi nên được coi trọng và muốn giữ lại với mức lương tới 3-4 nghìn USD mỗi tháng. Mời các em về nước, với mức lương cao lắm cũng chưa đến 200 USD thì thật là khó quá.

Read More »

Ngô biến đổi gene được tạo ra để kháng lại các loại sâu bệnh có thể mất đi tính năng này, bởi một loại sâu có khả năng thích nghi với giống cây mới rất nhanh chóng. Được giới thiệu vào năm 2003, giống ngô Bt dường như đáp ứng mơ ước của người nông dân trong việc giúp họ có mùa màng bội thu, đồng thời có ít hóa chất hơn vì tự bản thân nó đã tạo ra chất độc để tiêu diệt sâu bọ. Giống ngô lai này đã nhanh chóng được sự hưởng ứng của người dân và chiếm tới 65% diện tích ngô trên khắp nước Mỹ. Tuy nhiên, trong vài mùa hè qua, sâu ăn rễ đã sinh sôi nhanh chóng ở rễ của ngô Bt, tại nhiều khu vực thuộc 4 bang miền trung tây nước Mỹ. Điều này cho thấy một số côn trùng đang làm mất đi tính năng kháng sâu bọ của giống ngô Bt, AP đưa tin.

Read More »

Số hạt/bông là một yếu tố quan trọng cấu thành năng suất của lúa. Các nhà khoa học của Ấn Độ đã tiến hành thực hiện QTL mapping gene quy định số hạt/bông. Bản đồ liên kết di truyền với 166 marker SSR trên 12 nhiễm sắc thể đã được xây dựng từ quần thể tái tổ hợp (RILs) giữa giống Pusa 1266 (giống cho số hạt nhiều) và giống Pusa Basmati 1 (số hạt ít) đã xác định 1 QTL (qGN4-1) trên vai dài của nhiễm sắc thể số 4 và được narrowed down đến 0,78Mbp. Vùng này được so sánh để xác định vùng tương đồng với QTL2/Nre3 về số hạt/trái của ngô trên nhiễm sắc thể số 2. Kết quả mở ra triển vọng về việc cải thiện tiềm năng năng suất của lúa trồng với việc chọn lọc giống có số hạt /bông nhiều bằng ứng dụng marker phân tử.

ThS. Trương Quốc Ánh

Xem chi tiết tại http://www.springerlink.com/content/5t4n715131182017/

Read More »

(b) Kỹ thuật siêu âm: là một trong những kỹ thuật hình ảnh quan trọng nhất được ứng dụng rộng rãi trong sinh sản trên bò, từ mục đích nghiên cứu đến thương mại. Giữa thập niên 1980s, nhiều báo cáo đã trình bày về độ chính xác của siêu âm như là công cụ hữu hiệu để nghiên cứu sự tiến bộ của sinh sản trên bò (Curran và cs, 1986; Kastelic và cs, 1988 và Ginther, 1998). Kỹ thuật siêu âm là kỹ thuật không xâm lấn, cho phép nghiên cứu trên bò sống trong giai đoạn mang thai mà không làm tổn thương bào thai.

Read More »

(a) Kỹ thuật đa xuất noãn và cấy truyền phôi (MOET). Cấy truyền phôi bắt đầu cách đây khoảng 4 thập kỷ, là một công nghệ sinh sản tiến bộ hơn hẵn so với GTNT. Kỹ thuật này đạt thành tựu trong 25 năm qua và đã đánh dấu công nghệ chuyển phôi bò thương mại như là lĩnh vực kinh doanh quốc tế lớn nhất (Mapletoft và Hasler, 2005; Lonergan, 2007). Những đóng góp có ý nghĩa của kỹ thuật này vào sự gia tăng tính thương mại toàn cầu của phôi là sự phát triển thành công bảo quản đông lạnh và quy trình rửa phôi để thu được những phôi sạch bệnh, chất lượng cao (Mapletoft và Hasler, 2005). Trong năm 2005, khoảng 130 ngàn bò cái đã cho hơn khoảng 600 ngàn phôi phục vụ cấy truyền, tăng 10% trên phạm vi toàn cầu so với năm trước đó, các khu vực Bắc Mỹ, nam Mỹ và châu Á lần lượt chiếm 45%, 21% và 19% lượng ET trên thế giới (Thibier, 2005).

Read More »

Hiện tượng nhiều người tốt nghiệp tiến sĩ theo Đề án 322 về nước và không làm cho công ty nhà nước theo như đã cam kết là có thật. Cho tới thời điểm hiện tại, Bộ GD-ĐT vẫn chưa thống kê được con số này.

Ông Nguyễn Xuân Vang, Cục trưởng Cục đào tạo với nước ngoài cho biết: Từ năm 2000 đến hết 2010, Đề án 322 (sử dụng ngân sách Nhà nước) đã gửi được 4.590 người đi học, trong đó có 2.268 tiến sĩ. Đến nay đã có 3.017 người đã về nước, trong đó có 1.074 tiến sĩ.

Read More »

Bảo quản đông lạnh giao tử và phôi: kỹ thuật này cũng đạt những quy trình thành công nhằm đông lạnh tinh trùng, nhằm phục vụ công tác GTNT để nhân rộng tiềm năng di truyền của những đực giống tốt (Gordon, 1994). Đông lạnh tinh trùng đã đẩy mạnh sự phát triển của chăn nuôi bò sữa, thông qua GTNT, vì vậy hiện có hơn 60% đàn bò tại Mỹ được GTNT. Ngược lại, do đặc điểm của hình thức chăn nuôi quãng canh trên khu vực rộng, nên GTNT chưa được ứng dụng mạnh trong chăn nuôi bò thịt. Tương tự như GTNT, đông lạnh phôi đã cho phép thương mại hóa toàn cầu những gia súc có phẩm chất di truyền cao.

Read More »

Gieo tinh nhân tạo (GTNT) là kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đầu tiên, đã được sử dụng hơn 200 năm. Là một công nghệ hiện đại, GTNT với tinh dịch tươi hoặc đông lạnh đã là kỹ thuật thành công nhất và công nghệ sinh sản hiệu quả trong chăn nuôi trong sáu thập kỷ qua. Sử dụng GTNT có một tác động lớn đến các chương trình cải thiện di truyền các nước phát triển, góp phần tăng 1,0 đến 1,5% tỷ lệ hàng năm của tiến bộ di truyền ở bò sữa (Lohuis, 1995). Thông qua các tiến bộ di truyền đạt được bằng cách sử dụng GTNT, ước tính rằng khoảng 50% việc tăng hiệu quả sản xuất sữa quan sát thấy ở các nước phát triển trong nửa sau thế kỷ 20, là nhờ phổ biến kỹ thuật GTNT hơn phối giống thông thường, với 50% khác là nhờ tiến bộ đáng kể trong hệ thống sản xuất bao gồm cả sức khỏe đàn gia súc, quản lý tổng hợp, và dinh dưỡng (Gordon, 1994).

Read More »

Sự tiến bộ của sinh học và công nghệ trong suốt sáu thập kỷ qua đã mang lại sự phát triển của bốn thế hệ công nghệ hỗ trợ sinh sản (Assisted Reproductive Technology-ART). Trong lịch sử, ngoài sự ham biết khoa học, sự nảy sinh và phát triển của công nghệ sinh sản đã được thúc đẩy bởi việc cố gắng đạt được hiệu quả kinh tế cao hơn bằng cách tăng trong số con ở thế hệ đời sau từ những động vật có tiềm năng di truyền ưu tú hoặc đơn giản là để bảo vệ nguồn gen của những động vật sinh sản kém hay vô sinh. Nói cách khác, công nghệ sinh sản được phát triển để cung cấp cho chúng ta khả năng sử dụng các cá thể ưu tú rộng rãi hơn (Moore và Thatcher, 2006). Một tác dụng hữu ích nổi bật của công nghệ sinh sản là nghiên cứu cơ bản và lâu dài giúp giải thích những cơ chế sinh học phức tạp trong hệ thống sinh sản cũng như chu kỳ sinh sản của con đực và con cái. Ngày nay, không thể phân biệt giữa công nghệ sinh sản và công nghệ di truyền trong một chương trình quản lý di truyền thành công. Do đó, ứng dụng của công nghệ sinh học trong chăn nuôi thường nằm trong bốn lĩnh vực sau: (a) chăn nuôi và quản lý (b) sức khỏe gia súc (c) dinh dưỡng và phát triển và (d) sinh sản và di truyền.

Read More »

1 - 10 of 279   
First  |  
< Previous  |  
Next >  |  


 Chuyên Mục
Đóng

 Đơn Vị Tài Trợ
Đóng

 Thành Tích
Đóng

Đánh giá những thành quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng TBKT vào phát triển sản xuất nông nghiệp và nông thôn, Viện đã được Nhà nước và các tổ chức tặng thưởng:

Huân chương Độc lập:
- Hạng 2
- Hạng 3

Huân chương Lao động:
- Hạng 1
- Hạng 2
- Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước
- Nghiên cứu dinh dưỡng và thức ăn gia súc (2005)
- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC:
- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)
- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn
(2005)

 Website Liên Kết