Tiếng Việt  English
 Ngày Tháng
Đóng

 Tìm Kiếm
Đóng

SÁCH KỸ THUẬT

 

TÀI LIỆU KHUYẾN NÔNG

 

 

 

 

 Lượt Truy Cập
Đóng

Free Hit Counter

 CNSH Trong Sản Xuất Thực Phẩm Sạch
Đóng

Hạn hán làm giảm năng suất ngô là một thực tế đã và đang xảy ra với phạm vi, cường độ ngày càng nghiêm trọng. Tần suất và mức độ nghiêm trọng của hạn hán rất khó dự đoán để có thể điều chỉnh mùa vụ để né tránh. Do vậy, một trong những giải pháp đầu tiên được quan tâm là lai tạo các giống ngô chịu hạn nhằm giảm bớt thiệt hại. Nghiên cứu chọn tạo giống ngô chịu hạn ngoài việc trực tiếp chọn năng suất người ta còn dùng các tính trạng liên quan làm chỉ tiêu gián tiếp như khoảng cách trỗ cờ - phun râu (T-PR), số hạt/bắp, khối lượng hạt, số cây không bắp, chỉ số lá còn xanh, khối lượng rễ ở các tầng đất sâu và một số tính trạng khác làm tiêu chí chọn lọc. Chọn giống chịu hạn nhờ marker phân tử dựa vào các bản đồ QTLs.

Read More »

Năm 2008-2009, Phòng CNSH thuộc Viện KHKT Nông nghiệp miền Nam đã sản xuất phôi bò in-vitro trong điều kiện phòng TN của Viện và là lần ứng dụng đầu tiên tinh bò đã phân tách, chỉ chứa tinh trùng mang NST X, để sản xuất phôi bò in-vitro xác định trước giới tính. Kết quả bước đầu cho thấy: tỷ lệ thụ tinh trong vi giọt là 23,1% và tỷ lệ phát triển đến mức phôi nang là 19,6% khi sử dụng tinh bò thông thường, tỷ lệ thụ tinh trong vi giọt là 29,9% và tỷ lệ phát triển đến mức phôi nang là 35,0% khi sử dụng tinh bò đã phân tách (Chung Anh Dũng, Lê Công Thiện, Hoàng Ngọc Minh, Phạm Thị Quỳnh Lan, Đậu Thị Kim Dung, Bùi Phú Nam Anh).

Năm 2009, Phòng CNSH cũng đã thử nghiệm bước đầu tạo phôi heo in vitro từ buồng trứng thu ở lò mổ, kết quả cho thấy: tỷ lệ trứng chín trung bình đạt 74,04%, tỷ lệ thụ tinh trung bình đạt 33,24%, sau 6 ngày làm IVF, tỷ lệ trung bình phôi hơn 8 tế bào (8,62%), phôi dâu (10,46%), phôi nang sớm (0,92%), kết quả trên cho thấy đã bước đầu thành công khi tạo được phôi heo đến giai đoạn phôi nang (Chung Anh Dũng, Trương Sử Ngọc Hằng 2009). Từ những kết quả này cho thấy cần phải tiếp tục nghiên cứu để cải thiện các môi trường IVM, IVF và IVC để có thể giúp phôi bò, đặc biệt là phôi heo tiếp tục phát triển tốt hơn đến giai đoạn phôi nang trong điều kiện in vitro. Từ đó, chúng tôi đã tiến hành thử nghiệm bổ sung IGF-1 vào môi trường IVC để nuôi phôi bò, phôi heo in vitro.

Read More »

Giống lúa OM576 còn có tên gọi là giống Hầm Trâu được lai tạo và chọn lọc từ tổ hợp lai giữa giống IR84 và Hungary. Giống lúa này được nhiều nông dân ưa chuộng vì thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, khả năng thích nghi tốt. Tuy nhiên, nhược điểm của OM576 là gạo cứng cơm, hàm lượng amylose từ 25 - 26%. Có nhiều công trình nghiên cứu chứng minh rằng hàm lượng amylose được kiểm soát bởi locus Wx nằm trên vùng vai ngắn của nhiễm sắc thể số 6. Vì vậy, hàm lượng amylose của giống này được cải thiện bằng cách du nhập gen có hàm lượng amylose thấp từ giống lúa VD20 thông qua phương pháp lai hồi giao.

Read More »

Cây dừa (Cocos nucifera L.) là một trong những cây lấy dầu đa niên chủ yếu của vùng nhiệt đới được trồng rất phổ biến ở nhiều nước. Điều kiện tự nhiên và xã hội ở nước ta thuận lợi cho phát triển cây dừa. Ngoài việc trích dầu từ cơm dừa, các phần phụ khác như xơ, gáo, nước dừa cũng được sử dụng để chế biến thành các sản phẩm có giá trị cao như thảm sơ dừa, than hoạt tính, thạch dừa. Tỉnh Trà Vinh còn có giống dừa sáp, một giống dừa bản địa đặc trưng nổi tiếng với số lượng không nhiều, đang đứng trước nguy cơ bị lai tạp, thoái hóa thậm chí bị mất đi do không giữ giống và nhân giống bằng phương pháp thông thường.

Read More »

Tre được phân bố khắp nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam, với một loạt các chi khác nhau phù hợp với những vùng sinh thái khác nhau. Chúng có nhiều ứng dụng trong cuộc sống với tầm quan trọng cao về mặt kinh tế cũng như giữ nhiều vai trò trong hệ sinh thái nên cần thiết phải có những nỗ lực nghiêm túc để bảo tồn sự đa dạng của tre. Tuy nhiên, việc can thiệp thông qua các hình thức truyền thống như phân loại, định danh dựa trên kiểu hình là việc làm không dễ dàng và đôi khi không có sự thống nhất giữa các tác giả. Trong khi đó, hình thức lưu trữ vật liệu di truyền hoặc nhân giống ở tre là điều hết sức khó khăn và có thể làm thu hẹp cơ sở di truyền ngoài mong đợi. Vì thế, hiện nay việc bảo tồn tre bằng những phương pháp ex-situ vẫn chưa là một lựa chọn khả thi.

Read More »

Cà chua là cây rau màu quan trọng thứ 2 trên thế giới (sau cây khoai tây). Diện tích trồng cà chua hàng năm của thế giới được ước tính khoảng 4,6 triệu ha với sản lượng hơn 126 triệu tấn (Dilip R. Panthee và Feng Chen, 2010). Trên thế giới và tại Việt Nam, nhu cầu tiêu dùng cà chua ngày càng gia tăng. Bệnh sương mai, do nấm Phytophthora infestans gây nên, là nguyên nhân chính cản trở sự gia tăng sản lượng cà chua. Bệnh này có khả năng lây lan nhanh và hủy hoại hầu hết các vùng trồng cà chua trên thế giới và Việt Nam. Để phòng và trị bệnh, nhiều biện pháp kĩ thuật và thuốc diệt nấm đã được sử dụng. Nhưng các phương pháp này tỏ ra không hiệu quả hoặc làm gia tăng cac isolate kháng thuốc diệt nấm (Goodwin và ctv, 1996). Với sự phát triển của công nghệ sinh học thực vật đã cho phép ứng dụng marker phân tử vào công tác chọn tạo giống cà chua kháng bệnh sương mai.

Read More »

Nghiên cứu tính đa hình di truyền của một số giống cà chua nhờ dấu chuẩn phân tử nhằm xác định nguồn nguyên liệu kháng bệnh héo rũ vi khuẩn Ralstonia solanacearum Bệnh héo rũ vi khuẩn cây cà chua, được mô tả đầu tiên bởi Smith (1896) cách nay trên 100 năm, xếp vào một trong số bệnh nguy hiểm nhất của cây cà chua ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Hiện nay bệnh héo rũ là nguyên nhân chủ yếu làm giảm sản lượng cà chua ở nhiều vùng của Việt Nam. Bệnh héo rũ vi khuẩn do vi khuẩn trong đất là Ralstonia solanacearum. Bệnh gây hại trên tất cả các bộ phận của cây như lá, thân, rễ. Sử dụng các giống kháng là phương pháp hữu hiệu nhất để kiểm soát bệnh.

 

Read More »

Thông qua hoạt động của hệ vi sinh vật dạ cỏ, cellulose sẽ được sử dụng như nguồn cung cấp dinh dưỡng chủ yếu cho loài nhai lại như: trâu, bò, dê cừu… Hệ vi sinh vật dạ cỏ của thú nhai lại rất phong phú, bao gồm: vi khuẩn, nấm và protozoa (Denis và cs., 2003). Cả 3 loài vi sinh vật trên đều có khả năng sản xuất các enzyme phân giải cellulose. Tuy nhiên, vi khuẩn đóng vai trò chính, trong đó ba giống vi khuẩn có khả năng tiết các enzyme phân giải cellulose nhiều nhất: Fibriobacter succinogenes; Ruminococcus albus; Ruminococcus flavefaciens (Satoshi Koike và Yasuo Kobayashi, 2001). Theo Paul J. Weimer (1996), có rất nhiều enzyme phân giải cellulose: endoglucanase, exoglucanase, β- glucosidase, xylanase, cellodextrinase. Tuy nhiên, 3 enzyme có chức năng chính phân giải cellulose là: endoglucanase, exoglucanase, β glucosidase.

Read More »

2. Nguyên tắc di truyền có tính kế thừa

Tính kế thừa là một sự đo lường mức độ của một tính trạng nào đó (VD: sản lượng sữa) có thể di truyền cho đời sau. Tính kế thừa của một tính trạng được thể hiện bởi hệ số di truyền của tính trạng đó. Hệ số di truyền là yếu tố quan trọng trong số những yếu tố được sử dụng để xác định mức độ cải thiện di truyền được bao nhiêu ở một tính trạng nào đó.

Read More »

Các nhà chăn nuôi bò sữa luôn quan tâm đến việc cải thiện di truyền đàn bò sữa để có thể tăng khả năng sản xuất sữa của chúng. Để làm được điều này cần phải chú ý rằng cả hai yếu tố môi trường và di truyền đều có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng sản xuất sữa. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi đề cập đến các vấn đề cần lưu ý về các nguyên tắc di truyền (genetic principles) trên bò sữa.

Read More »

1 - 10 of 40   
First  |  
< Previous  |  
Next >  |  


 Chuyên Mục
Đóng

 Đơn Vị Tài Trợ

 

 

 

 

 Thành Tích
Đóng

Đánh giá những thành quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng TBKT vào phát triển sản xuất nông nghiệp và nông thôn, Viện đã được Nhà nước và các tổ chức tặng thưởng:

Huân chương Độc lập:
- Hạng 2
- Hạng 3

Huân chương Lao động:
- Hạng 1
- Hạng 2
- Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước
- Nghiên cứu dinh dưỡng và thức ăn gia súc (2005)
- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC:
- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)
- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn
(2005)

 Website Liên Kết